Thuốc Truflovir 245mg Herabiopharm điều trị viêm gan B và HIV 30 viên
Thuốc Truflovir 245mg Herabiopharm có thành phần là hoạt chất Tenofovir disoproxil được chỉ định dùng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác để điều trị nhiễm HIV-1 và điều trị viêm gan B mạn tính ở người lớn.
- Thông tin sản phẩm
Thành phần
Thuốc Truflovir 245mg Herabiopharm có thành phần:
- Tenofovir disoproxil (dưới dạng Tenofovir disoproxil fumarate 300mg): 245mg
Công dụng (Chỉ định)
Nhiễm HIV-1
- Tenofovir disoproxil được chỉ định dùng kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác để điều trị nhiễm HIV-1 ở người lớn.
Ở người lớn, hiệu quả của tenofovir disoproxil đối với nhiễm HIV-1 được chứng minh dựa trên kết quả của một nghiên cứu ở bệnh nhân chưa từng điều trị bao gồm người có tải lượng virus cao (> 100.000 bản sao/ml) và các nghiên cứu mà tenofovir disoproxil được thêm vào liệu pháp cơ bản ổn định (chủ yếu 3 loại thuốc) ở những bệnh nhân đã từng được điều trị bằng thuốc kháng retrovirus nhưng bị thất bại sớm (< 10.000 bản sao/ml, phần lớn bệnh nhân có < 5.000 bản sao/ml).
- Tenofovir disoproxil cũng được chỉ định điều trị nhiễm HIV-1 ở thanh thiếu niên từ 12 đến dưới 18 tuổi, trong trường hợp kháng các thuốc ức chế enzym sao chép ngược nucleosid (NRTI) hoặc không thể sử dụng phác đồ điều trị đầu tay do độc tính.
Lựa chọn tenofovir disoproxil để điều trị ở bệnh nhân nhiễm HIV-1 đã từng điều trị với thuốc kháng retrovirus nên dựa trên thử nghiệm kháng virus và/hoặc tiền sử điều trị của mỗi bệnh nhân.
Nhiễm virus viêm gan B
Tenofovir disoproxil được chỉ định điều trị viêm gan B mạn tính ở người lớn, với:
- Bệnh gan còn bù, có bằng chứng về sự nhân lên của virus, nồng độ alanin aminotransferase (ALT) huyết thanh tăng liên tục và bằng chứng mô học của viêm và/hoặc xơ hóa.
- Bằng chứng của virus viêm gan B đề kháng lamivudine.
- Bệnh gan mất bù.
Tenofovir disoproxil được chỉ định điều trị viêm gan B mạn tính ở thanh thiếu niên 12 đến dưới 18 tuổi với:
- Bệnh gan còn bù và bệnh liên quan đến miễn dịch, như có sự nhân lên của virus, nồng độ alanin aminotransferase (ALT) huyết thanh tăng liên tục, hoặc bằng chứng mô học của viêm và/hoặc xơ hóa vừa đến nặng.
Cách dùng thuốc Truflovir 245mg
Nên uống tenofovir disoproxil 1 lần/ngày cùng với thức ăn. Trong trường hợp bệnh nhân gặp khó khăn khi nuốt nguyên viên, có thể nghiền viên thuốc cùng với ít nhất 100 ml nước, nước ép cam hoặc nước ép nho.
Nên bắt đầu điều trị bởi một bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị nhiễm HIV và/hoặc điều trị viêm gan B mạn tính.
Liều dùng
Nhiễm HIV-1 và viêm gan B mạn tính:
Người lớn và thanh thiếu niên từ 12 đến dưới 18 tuổi, cân nặng ≥ 35 kg:
- Liều khuyến cáo của tenofovir disoproxil để điều trị HIV hoặc viêm gan B mạn tính là 245 mg tenofovir disoproxil (1 viên), uống một ngày một lần cùng với bữa ăn.
- Chỉ định điều trị cho thanh thiếu niên nên dựa trên sự cân nhắc cẩn thận nhu cầu của từng bệnh nhân và tham khảo các hướng dẫn điều trị nhi khoa hiện hành, bao gồm cả giá trị mô học ban đầu. Lợi ích của ức chế virus lâu dài cùng với tiếp tục điều trị phải được cân nhắc với nguy cơ khi điều trị kéo dài, bao gồm xuất hiện virus viêm gan B đề kháng và những bất ổn liên quan đến ảnh hưởng lâu dài của độc tính trên xương và thận.
- ALT huyết thanh nên tăng liên tục ít nhất 6 tháng trước khi điều trị ở thanh thiếu niên bị bệnh gan còn bù do viêm gan B mạn tính có HbeAg dương tính, ít nhất 12 tháng ở bệnh nhân có HbeAg âm tính.
Thời gian điều trị ở người lớn và thanh thiếu niên bị viêm gan B mạn tính:
Thời gian điều trị tối ưu chưa được biết. Xem xét ngừng điều trị khi:
- Bệnh nhân HBeAg dương tính không có xơ gan, nên điều trị ít nhất 12 tháng sau khi chuyển đổi huyết thanh HBe (mất HBeAg và mất DNA HBV cùng với phát hiện Anti-Hbe trên hai mẫu huyết thanh liên tiếp cách nhau ít nhất 3 – 6 tháng) được xác định hoặc cho đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc mất hiệu quả. Nên theo dõi thường xuyên nồng độ ALT và DNA HBV huyết thanh sau khi ngừng điều trị để phát hiện bất kỳ tái phát nhiễm virus muộn.
- Bệnh nhân HbeAg âm tính không có xơ gan, nên điều trị ít nhất đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc có bằng chứng mất hiệu quả. Có thể cân nhắc ngừng điều trị sau khi đạt được sự ức chế virus ổn định (ít nhất 3 năm) với điều kiện nồng độ ALT và DNA HBV huyết thanh được theo dõi thường xuyên sau khi ngừng điều trị để phát hiện bất kỳ tái phát nhiễm virus muộn. Khi điều trị kéo dài hơn hai năm, khuyến cáo tái đánh giá thường xuyên để xác định việc tiếp tục liệu pháp đã chọn có thích hợp với bệnh nhân hay không.
- Không khuyến cáo ngừng điều trị ở bệnh nhân người lớn bị bệnh gan hoặc xơ gan mất bù.
Trẻ em:
- Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở trẻ em dưới 2 tuổi nhiễm HIV-1 hoặc viêm gan B mạn tính chưa được thiết lập. Không có dữ liệu có sẵn.
Quên liều
- Nếu bệnh nhân quên một liều trong vòng 12 giờ so với thời gian thường dùng thuốc, nên uống tenofovir disoproxil với bữa ăn càng sớm càng tốt và tiếp tục lịch uống thuốc bình thường.
- Nếu bệnh nhân quên một liều tenofovir disoproxil hơn 12 giờ và gần như đến thời gian cho liều tiếp theo, không nên uống bù liều đã quên và chỉ cần tiếp tục theo lịch dùng thuốc thông thường.
- Nếu bệnh nhân bị nôn trong vòng một giờ sau khi uống tenofovir disoproxil, nên uống 1 viên khác. Nếu bệnh nhân bị nôn sau hơn 1 giờ uống tenofovir disoproxil, không cần uống liều khác.
Những đối tượng đặc biệt:
Người cao tuổi:
- Không có dữ liệu có sẵn để khuyến cáo liều cho bệnh nhân trên 65 tuổi.
Suy thận:
- Tenofovir được thải trừ qua thận và nồng độ tenofovir tăng lên ở bệnh nhân rối loạn chức năng thận.
- Người lớn:
- Có ít dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil ở bệnh nhân suy thận vừa và nặng (độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút), dữ liệu an toàn lâu dài chưa được đánh giá đối với bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 – 80 ml/phút). Do đó, ở người lớn bị suy thận, chỉ nên sử dụng tenofovir disoproxil nếu các lợi ích tiềm năng của việc điều trị lớn hơn rủi ro tiềm ẩn.
- Suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 – 80 ml/phút): Dữ liệu giới hạn từ các nghiên cứu lâm sàng hỗ trợ liều 245 mg tenofovir disoproxil x 1 lần/ngày đối với bệnh nhân suy thận nhẹ.
- Suy thận vừa (độ thanh thải creatinin 30 – 49 ml/phút): Kéo dài khoảng cách giữa các liều. Có thể sử dụng 245 mg tenofovir disoproxil mỗi 48 giờ dựa trên mô hình dữ liệu dược động học đơn liều ở người không nhiễm HBV và âm tính với HIV với các mức độ suy thận khác nhau, bao gồm bệnh thận giai đoạn cuối cần thẩm phân máu, nhưng chưa được xác nhận trong các nghiên cứu lâm sàng. Do đó, nên theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng của điều trị và chức năng thận ở những bệnh nhân này.
- Suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút) và bệnh nhân thẩm phân máu: Liều khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận nặng là 245 mg tenofovir disoproxil mỗi 72 – 96 giờ (2 lần/tuần). Đối với bệnh nhân thẩm phân máu, có thể dùng 245 mg tenofovir disoproxil mỗi 7 ngày sau mỗi đợt thẩm phân máu.
- Điều chỉnh khoảng cách liều chưa được xác nhận trong các nghiên cứu lâm sàng. Các mô phỏng cho rằng, kéo dài khoảng cách liều tenofovir disoproxil không phải là tối ưu và có thể dẫn đến tăng độc tính, đáp ứng có thể không đầy đủ. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng lâm sàng với điều trị và chức năng thận.
- Không có liều khuyến cáo cho những bệnh nhân không thẩm phân máu có độ thanh thải creatinin < 10 ml/phút.
- Trẻ em:
- Không khuyến cáo sử dụng tenofovir disoproxil ở trẻ em bị suy thận.
Suy gan:
- Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan. Nếu ngừng tenofovir disoproxil ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính có hoặc không có đồng nhiễm HIV, những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ bằng chứng bệnh gan trầm trọng.
Không sử dụng trong trường hợp (Chống chỉ định)
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)
Khi sử dụng thuốc, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).
Các tác dụng phụ nghi ngờ có liên quan tới việc điều trị được liệt kê dưới đây theo hệ thống các cơ quan trong cơ thể và tần suất. Các tần suất được xác định là rất hay gặp (>1/10), thường gặp (>1/100, <1/10), không thường gặp (>1/1000, <1/100), hiếm gặp (>1/10000, <1000), rất hiếm gặp (<10000) bao gồm cả những báo cáo riêng lẻ.
Đối với điều trị HIV – 1
Đánh giá về tác dụng phụ được dựa trên kinh nghiệm sử dụng thuốc sau khi đưa ra thị trường và trong hai nghiên cứu trên 653 bệnh nhân đã điều trị kháng retrovirus từ trước đang dừng tenofovir disoproxil fumarat (n = 443) hoặc placebo (n = 210) trong phác đồ kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác trong 24 tuần, và một nghiên cứu mù đôi có đối chứng so sánh trên 600 bệnh nhân sử dụng thuốc kháng retrovirus lần đầu được điều trị bằng tenofovir disoproxil 245mg (dưới dạng fumarat) (n = 299) hoặc stavudin (n = 301) kết hợp với lamivudin và efavirenz trong 144 tuần.
Khoảng một phần ba số bệnh nhân được coi là gặp các tác dụng ngoại ý trong quá trình điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác. Những phản ứng này thường là các triệu chứng đường tiêu hóa mức độ nhẹ tới trung bình.
Các rối loạn thần kinh
-
Rất hay gặp: Chóng mặt.
Các rối loạn đường tiêu hóa
- Rất hay gặp: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn.
- Hay gặp: Đầy hơi.
- Khoảng 1% bệnh nhân điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat phải ngừng điều trị do các triệu chứng đường tiêu hóa.
- Các phác đồ kết hợp kháng retrovirus thường kèm theo các rối loạn chuyển hóa như: Tăng triglycerid máu, tăng cholesterol máu, kháng insulin, tăng glucose máu và tăng lactat máu.
- Các phác đồ kết hợp kháng retrovirus thường kèm theo tình trạng tái phân bố mỡ trong cơ thể (hội chứng loạn dưỡng mỡ) ở bệnh nhân HIV bao gồm: Giảm mỡ ngoại vi và dưới da mặt, tăng mỡ nội tạng và bụng, phì đại ngực và tích mỡ vùng cổ lưng (gù trâu).
- Trong một nghiên cứu lâm sàng có đối chứng kéo dài 144 tuần trên các bệnh nhân dùng thuốc kháng retrovirus lần đầu so sánh tenofovir disoproxil fumarat với stavudin trong phác đồ kết họp với lamivudin và efavirenz, những bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil có tỷ lệ mắc hội chứng loạn dưỡng mỡ thấp hơn đáng kể so với những bệnh nhân dùng stavudin. Nhóm dùng tenofovir disoproxil fumarat cũng có mức tăng trung bình thấp hơn đáng kể về các chỉ số triglycerid lúc đói và tổng lượng cholesterol so với nhóm kia.
- Ở bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng tại thời điểm sử dụng phác đồ phối hợp thuốc chống retrovirus (CART), phản ứng viêm có hoặc không có triệu chứng với các tác nhân gây bệnh cơ hội có thể xuất hiện.
- Đặc biệt, ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV hoặc điều trị kết hợp với kháng retrovirus, nguy cơ hoại tử xương đã được báo cáo.
Đối với điều trị virus viêm gan B
Đánh giá về tác dụng phụ được dựa trên kinh nghiệm sử dụng thuốc sau khi đưa ra thị trường và trong hai nghiên cứu trên 641 bệnh nhân viêm gan B mạn tính hoặc xơ gan còn bù dùng tenofovir disoproxil fumarat 245mg (n = 426) mỗi ngày hoặc uống adefovir dipivoxil 10mg (n = 215) mỗi ngày trong 48 tuần.
Các rối loạn đường tiêu hóa
-
Thường gặp: Buồn nôn.
Rối loạn hệ thống miễn dịch
-
Rất hiếm gặp: Phản ứng dị ứng.
Các rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng
- Rất hay gặp: Giảm phosphat máu.
- Hiếm: Nhiễm acid lactic.
Các rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
-
Rất hiếm: Khó thở.
Bệnh đường tiêu hóa
- Thường gặp: Tăng nồng độ amylase.
- Hiếm gặp: Viêm tụy.
- Rất hiếm gặp: Đau dạ dày.
Các rối loạn gan mật
- Hiếm: Tăng enzym gan (AST, ALT, GGT).
- Rất hiếm: Viêm gan.
Rối loạn ở da và dưới da
-
Hiếm gặp: Phát ban.
Các rối loạn cơ xương và mô liên kết
-
Không rõ: Bệnh lý cơ, nhuyễn xương (cả hai đều liên quan tới bệnh lý ống lượn gần).
Các rối loạn thận – tiết niệu
- Hiếm: Suy thận, suy thận cấp, bệnh thận ở ống lượn gần (bao gồm hội chứng Fanconi), tăng creatinin.
- Rất hiếm: Hoại tử ống thận cấp.
- Có cả những báo cáo hậu mãi về viêm thận và đái tháo nhạt có nguyên nhân từ thận.
Những rối loạn chung và tình trạng tại nơi dùng thuốc
-
Rất hiếm: Suy nhược.
Tương tác với các thuốc khác
Các thuốc chuyển hóa bởi men gan
Dựa trên các kết quả nghiên cứu in vitro và các đường thải trừ của tenofovir thì khả năng chuyển hóa của CYP450 với các thuốc khác mà có liên quan đến tenofovir là thấp.
Các thuốc thải trừ qua thận
Tenofovir được bài tiết qua thận qua 2 quá trình lọc và bài tiết tích cực thông qua vận chuyển anion (hOAT1). Khi dùng đồng thời với các sản phẩm khác cạnh tranh đào thải qua ống thận (ví dụ: Cidofovir và tenofovir disoproxil fumarat), có thể làm tăng nồng độ của tenofovir hoặc thuốc dùng đồng thời với nó.
Các thuốc chống virus
- Khi kết hợp tenofovir disoproxil fumarat với emtricitabin, lamivudin, entecavir, indinavir và efavirenz không gây ra bất kỳ sự tương tác nào.
- Khi kết hợp tenofovir disoproxil fumarat với lopinavir, ritonavir: Không có bất kỳ thay đổi nào về dược động học của lopinavir và ritonavir, diện tích dưới đường cong (AUC) của tenofovir tăng khoảng 30%. Nồng độ tenofovir cao hơn trong máu sẽ làm tăng các tác dụng phụ trong đó có bệnh thận.
- Sử dụng kết hợp tenofovir disoproxil fumarat và didanosin: Diện tích dưới đường cong (AUC) của didanosin tăng 48 – 60% dẫn tới tăng nguy cơ gặp phải tác dụng phụ liên quan tới didanosin. Đã xuất hiện các ca viêm tụy và nhiễm acid lactic nhưng hiếm, đôi khi gây tử vong. Không khuyến cáo kết hợp tenofovir disoproxil fumarat và didanosin.
- Kết hợp tenofovir disoproxil fumarat với atazanavir/ ritonavir: Sự kết hợp này làm giảm nồng độ atazanavir/ ritonavir (so vói atazanavir 400mg, giảm AUC và Cmin tương ứng là 25% và 40%; so với ritonavir 100mg, giảm AUC và Cmin tương ứng là 25% và 26%). Dần đến tăng nồng độ tenofovir, có thể làm trầm trọng thêm các tác dụng phụ của tenofovir trong đó có bệnh thận.
Các tương tác khác:
Điều trị kết hợp tenofovir disoproxil fumarat với methadon, ribavirin, rifampicin hoặc với các thuốc tránh thai (norgestimat, ethinyl estradiol) không gây ra bất kỳ tương tác dược động học nào.
Lưu ý khi sử dụng Truflovir 245mg (Cảnh báo và thận trọng)
Không được dùng viên nén Truflovir 245mg đồng thời với bất kỳ thuốc nào khác có chứa tenofovir disoproxil fumarat.
Tenofovir disoproxil fumarat không được dùng kết hợp với adefovir.
Tenofovir disoproxil fumarat chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân dưới 18 tuổi.
Tác dụng trên thận
Tenofovir được thải trừ chủ yếu qua thận. Nồng độ tenofovir phơi nhiễm trong cơ thể có thể tăng đáng kể ở những bệnh nhân suy thận trung bình hoặc nặng (độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút) đang dùng liều hàng ngày 245mg tenofovir disoproxil (dưới dạng fumarat).
Do đó, cần điều chỉnh khoảng cách giữa hai lần dùng thuốc với tất cả các bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 50 ml/phút. Cần phải kiểm soát cẩn thận dấu hiệu nhiễm độc như: Suy giảm chức năng thận, và các biến đổi về nồng độ virus ở những bệnh nhân bị suy thận từ trước, khi bắt đầu kéo dài khoảng cách gữa các liều dùng tenofovir disoproxil fumarat.
Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân suy thận còn chưa được nghiên cứu.
Đã gặp suy thận, kể cả những trường hợp kèm theo chứng giảm phosphat máu, khi sử dụng tenofovir disoproxil fumarat.
Nên giám sát chức năng thận (độ thanh thải creatinin và phosphat huyết thanh) khi dùng tenofovir disoproxil fumarat, 4 tuần một lần trong năm điều trị đầu tiên, và sau đó là 3 tháng một lần. Ở những bệnh nhân có nguy cơ hoặc có tiền sử suy thận, và các bệnh nhân có chức năng thận kém, cần cân nhắc đánh giá chức năng thận thường xuyên hơn.
Nếu nồng độ phosphat huyết thanh < 1,5 mg/dl (0,48 mmol/l) hoặc độ thanh thải creatinin giảm xuống < 50 ml/phút, nên đánh giá lại chức năng thận trong vòng một tuần, bao gồm xác định nồng độ glucose máu, kali máu và glucose nước tiểu, và điều chỉnh khoảng cách giữa các liều tenofovir disoproxil fumarat.
Cần thận trọng khi điều trị cách quãng bằng tenofovir disoproxil fumarat với những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin giảm xuống < 50 ml/phút hoặc nồng độ phosphat huyết thanh giảm xuống < 1,0 mg/dl (0,32 mmol/l).
Tenofovir disoproxil fumarat chưa được đánh giá ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc gây độc thận (chẳng hạn như: Các aminoglycosid, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidin, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin-2).
Tránh sử dụng tenofovir disoproxil fumarat khi đang dùng hoặc mới ngừng dùng các thuốc gây độc thận. Nếu bắt buộc phải kết hợp tenofovir disoproxil fumarat với các thuốc gây độc thận, nên kiểm tra chức năng thận hàng tuần.
Tenofovir disoproxil fumarat chưa được đánh giá về lâm sàng ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc bài tiết qua cùng một hệ thống vận chuyển ở thận là hệ thống vận chuyển anion hữu cơ 1 ở người (hOAT1) (chẳng hạn như: Adefovir dipivoxil; hay cidofovir là một chất đã biết gây độc thận).
Hệ thống vận chuyển này (hOAT1) chịu trách nhiệm về bài tiết ở ống thận, và một phần, trong việc thải trừ qua thận của tenofovir, adefovir và cidofovir. Do đó, dược động học của các thuốc này có thể bị thay đổi nếu dùng phối hợp. Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, liều đơn adefovir dipivoxil kết hợp với tenofovir disoproxil fumarat không gây ra tương tác thuốc nào về mặt dược động học.
Tuy nhiên, còn chưa biết rõ tính an toàn lâm sàng bao gồm cả các ảnh hưởng tiềm tàng lên thận của công thức kết hợp adefovir dipivoxil và tenofovir disoproxil fumarat. Chỉ nên kết hợp thuốc khi thật sự cần thiết, và nếu buộc phải kết hợp thì phải kiểm tra chức năng thận hàng tuần.
Tác dụng lên xương
Trong một nghiên cứu lâm sàng có đối chứng kéo dài 144 tuần so sánh tenofovir disoproxil fumarat với stavudin trong công thức kết hợp với lamivudin và efavirenz trên các bệnh nhân dùng thuốc kháng retrovirus lần đầu, người ta thấy có sự giảm nhẹ mật độ xương ở xương hông và cột sống trong cả hai nhóm điều trị. Ở tuần 144, sự giảm mật độ xương ở cột sống và biến đổi các chỉ số sinh học của xương so với lúc bắt đầu nghiên cứu ở nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat lớn hơn đáng kể so với nhóm kia.
Ở nhóm này, sự giảm mật độ xương ở hông cũng lớn hơn đáng kể so với nhóm kia cho tới tuần thứ 96. Tuy nhiên, sau 144 tuần điều trị, không có nguy cơ gãy xương tăng hoặc dấu hiệu lâm sàng về bất thường xương. Nên tham vấn bác sĩ nếu nghi ngờ có bất thường xương.
Tránh sử dụng tenofovir disoproxil fumarat cho những bệnh nhân có khuynh hướng mang đột biến gen K65R khi điều trị kháng retrovirus.
Tenofovir disoproxil fumarat chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Hầu như các bệnh nhân cao tuổi đều có chức năng thận giảm; do đó cần thận trọng khi điều trị cho các bệnh nhân cao tuổi bằng tenofovir disoproxil fumarat.
Nhiễm acid lactic
Đã gặp các trường hợp nhiễm acid lactic, thường kèm theo gan nhiễm mỡ, khi sử dụng các chất đồng đẳng nucleosid. Các dữ liệu tiền lâm sàng và lâm sàng gợi ý rằng nguy cơ xuất hiện tình trạng nhiễm acid lactic, là tác dụng phụ của cả nhóm các chất đồng đẳng nucleosid, đối với tenofovir disoproxil fumarat là thấp. Tuy nhiên, vì tenofovir có cấu trúc đồng đẳng nucleosid nên không thể loại trừ nguy cơ này.
Các dấu hiệu sớm (tăng lactat máu toàn thân) bao gồm các triệu chứng tiêu hóa nhẹ (buồn nôn, nôn và đau bụng), mệt mỏi không đặc hiệu, ăn kém ngon, giảm cân, các triệu chứng hô hấp (thở chậm và/ hoặc sâu) hoặc các triệu chứng thần kinh (kể cả yếu vận động). Nhiễm acid lactic có tỷ lệ tử vong cao và có kèm theo viêm tụy, suy gan hoặc suy thận. Nhiễm acid lactic thường xuất hiện sau một vài hoặc nhiều tháng điều trị.
Nên ngừng điều trị bằng các chất đồng đẳng nucleosid khi có các dấu hiệu tăng lactat máu và nhiễm acid lactic/ chuyển hóa, phì đại gan tiến triển, hoặc tăng men gan.
Cần thận trọng khi dùng các chất đồng đẳng nucleosid cho bất kỳ bệnh nhân nào (đặc biệt là phụ nữ béo phì) bị phì đại gan, viêm gan hoặc các yếu tố nguy cơ đã biết đối với bệnh gan và gan nhiễm mỡ (kể cả một số thuốc nhất định và cồn). Các bệnh nhân đồng thời nhiễm viêm gan C và được điều trị bằng alpha interferon và ribavirin có thể có nguy cơ đặc biệt.
Cần theo dõi chặt chẽ các bệnh nhân có nguy cơ cao.
Liệu pháp kháng retrovirus kết hợp thường kèm theo tình trạng tái phân bố mỡ trong cơ thể (hội chứng loạn dưỡng mỡ) ở bệnh nhân HIV. Hiện còn chưa biết rõ hậu quả lâu dài của những tình trạng này. Kiến thức về cơ chế còn chưa đầy đủ. Có giả thuyết rằng có mối liên hệ giữa tình trạng tích mỡ nội tạng với các chất ức chế protease và tình trạng teo mô mỡ với các chất ức chế men sao chép ngược.
Nguy cơ cao gặp hội chứng loạn dưỡng mỡ thường kèm theo những yếu tố cá nhân như: Tuổi cao, và các yếu tố liên quan đến thuốc như: Thời gian điều trị kháng retrovirus kéo dài và các rối loạn chuyển hóa kèm theo. Thăm khám lâm sàng nên bao gồm cả đánh giá các dấu hiệu thực thể của tình trạng tái phân bố mỡ. Cần xem xét đến việc xác định nồng độ lipid huyết tương và glucose máu lúc đói. Cần giám sát lâm sàng thích hợp các rối loạn lipid.
Tenofovir có cấu trúc giống các chất đồng đẳng nucleosid, do đó không thể bỏ qua nguy cơ gặp hội chứng loạn dưỡng mỡ. Tuy nhiên, dữ liệu lâm sàng ở tuần thứ 144 từ các bệnh nhân dùng thuốc kháng retrovirus lần đầu chỉ ra rằng nguy cơ loạn dưỡng mỡ của tenofovir disoproxil fumarat thấp hơn so với stavudin khi kết hợp với lamivudin và efavirenz.
Người ta đã khẳng định trên in vitro và in vivo rằng: Các chất đồng đẳng nucleosid và nucleotid có gây hủy hoại ty thể ở mức độ khác nhau. Đã có các báo cáo về suy chức năng ty thể ở trẻ sơ sinh HIV âm tính bị phơi nhiễm các chất đồng đẳng nucleosid từ trong tử cung và/ hoặc sau khi sinh.
Các phản ứng ngoại ý được báo cáo là rối loạn huyết học (thiếu máu, thiếu bạch cầu trung tính), rối loạn chuyển hóa (tăng lactat máu, tăng lipase máu). Những phản ứng này thường chỉ là tạm thời. Đã có báo cáo về một số rối loạn về thần kinh khởi phát muộn (tăng trương lực cơ, động kinh, hành vi bất thường).
Người ta hiện còn chưa biết các rối loạn thần kinh là tạm thời hay lâu dài. Bất kỳ trẻ em nào phơi nhiễm từ trong bào thai với các nucleosid và các đồng đẳng nucleosid, kể cả những trẻ em HIV âm tính, đều phải được theo dõi về lâm sàng và xét nghiệm, và nên kiểm tra đầy đủ về khả năng rối loạn chức năng ty thể trong trường hợp có các dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan. Những phát hiện này không ảnh hưởng tới khuyến cáo quốc gia hiện nay về việc sử dụng các thuốc kháng retrovirus cho phụ nữ có thai để ngăn ngừa lây truyền HIV.
Hội chứng phục hồi miễn dịch
Ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng, vào lúc khởi đầu điều trị bằng thuốc kháng retrovirus kết hợp (CART), phản ứng viêm có thể xuất hiện đối với các tác nhân gây bệnh cơ hội có hoặc không có triệu chứng, và gây ra các tình trạng lâm sàng nghiêm trọng, hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng đã có.
Đặc biệt, những phản ứng như vậy đã được quan sát thấy trong vài tuần hoặc tháng đầu tiên điều trị. Những ví dụ của các phản ứng này là: Viêm võng mạc do cytomegalovirus, nhiễm mycobacterium rộng và/ hoặc khu trú, và viêm phổi do Pneumocystis carinii. Bất kỳ triệu chứng viêm nào cũng phải được đánh giá và điều trị nếu cần.
Bệnh gan
Dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả rất hạn chế ở những bệnh nhân ghép gan.
Có rất ít dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarat ở bệnh nhân bị nhiễm HBV với bệnh gan mất bù và có tỷ lệ Child – Pugh – Turcotte (CPT) > 9. Những bệnh nhân này có nguy cơ cao bị phản ứng phụ nghiêm trọng trên gan hoặc thận. Do đó, các thông số về gan và thận phải được theo dõi chặt chẽ trên các đối tượng bệnh nhân này.
- Viêm gan trầm trọng.
- Sự bùng phát viêm gan: Các đợt bùng phát tự phát bệnh viêm gan B mạn tính là tương đối phổ biến và được đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột ALT huyết thanh. Sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus, ALT huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân, ở những bệnh nhân có bệnh gan mất bù, sự gia tăng ALT huyết thanh thường không đi kèm với nồng độ bilirubin huyết thanh tăng hoặc suy gan. Bệnh nhân xơ gan có thể có nguy cơ cao bị mất máu do viêm gan, do đó cần được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị.
- Các cơn bùng phát sau khi ngừng điều trị: Viêm gan cấp tính trầm trọng cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã ngừng liệu pháp điều trị viêm gan B. Các đợt bùng phát bệnh sau điều trị thường liên quan đến sự gia tăng HBV DNA, và phần lớn dường như tự hạn chế. Tuy nhiên, các đợt trầm trọng, bao gồm cả tử vong, đã được báo cáo. Chức năng gan phải được theo dõi trong những khoảng thời gian lặp lại với cả việc theo dõi lâm sàng và xét nghiệm trong ít nhất 6 tháng sau khi ngưng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, việc tiếp tục điều trị viêm gan B có thể được bảo đảm. Ở những bệnh nhân bị bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, không nên ngừng điều trị vì sau đợt điều trị viêm gan trầm trọng có thể dẫn đến suy gan.
Bệnh gan bùng phát đặc biệt nghiêm trọng, và đôi khi gây tử vong ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù.
- Đồng nhiễm với viêm gan C hoặc D: Không có dữ liệu về hiệu quả của tenofovir ở bệnh nhân đồng nhiễm virus viêm gan C hoặc D.
- Đồng nhiễm HIV - 1 và viêm gan B: Do nguy cơ phát triển kháng HIV, tenofovir disoproxil fumarat chỉ nên được sử dụng như là một phần của một phác đồ kết hợp kháng retrovirus thích hợp ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV/ HBV. Các bệnh nhân có rối loạn chức năng gan trước đây, bao gồm viêm gan mạn tính hoạt động, có sự tăng tần số chức năng gan bất thường trong điều trị kết hợp thuốc kháng retrovirus và nên được theo dõi theo phác đồ chuẩn. Nếu có những triệu chứng bệnh gan xấu đi ở những bệnh nhân như vậy, cần phải xem xét tạm thời hoặc vĩnh viễn ngừng điều trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự gia tăng ALT có thể là một phần của việc làm giảm HBV trong quá trình điều trị với tenofovir (xem phần cảnh báo bùng phát viêm gan).
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Không có nghiên cứu nào của tenofovir disoproxil về ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Thời kỳ mang thai
Không có dữ liệu lâm sàng về tình trạng phơi nhiễm tenofovir disoproxil fumarat khi đang mang thai.
Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp của tenofovir disoproxil fumarat đối với quá trình mang thai, sự phát triển bào thai, sự sinh nở hoặc sự phát triển sau khi ra đời.
Chỉ nên sử dụng tenofovir disoproxil fumarat khi đang mang thai nếu lợi ích mang lại cao hơn so với nguy cơ tiềm tàng đối với bào thai. Tuy nhiên, người ta còn chưa biết rõ nguy cơ tiềm tàng đối với sự phát triển của bào thai người, do đó khi dùng tenofovir disoproxil fumarat cho những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ phải luôn kết hợp với các biện pháp tránh thai hiệu quả.
Thời kỳ cho con bú
Các nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng: Tenofovir được bài tiết qua sữa. Người ta chưa biết liệu tenofovir có bài tiết qua sữa người hay không. Do đó, khuyến cáo người mẹ đang điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat không nên cho con bú.
Theo nguyên tắc chung, khuyến cáo phụ nữ nhiễm HIV và virus viêm gan B không nên cho con bú để tránh lây truyền HIV và virus viêm gan B sang con.
Bảo quản
- Bảo quản nơi khô thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao
- Để xa tầm tay trẻ em
- Đánh giá SP
- Cảm nhận KH trên Facebook
